Những chùm quả tròn nhỏ cỡ hạt tiêu, mọc trên một cây gỗ nhỏ ở vùng núi phía bắc. Bóp một quả, mùi chanh ngọt bật ra. Tên Việt là màng tang, tên quốc tế là may chang, và khoảng ba phần tư tinh dầu của nó là citral.
Quả màng tang trên cành
Quả màng tang nhỏ, tròn, mọc thành chùm dọc cành, trông giống hạt tiêu. Đó là lý do cây có những tên như mountain pepper trong tiếng Anh, và tiêu rừng trong cách gọi của nhiều người. Nhưng màng tang không phải họ Hồ tiêu. Mùi của nó cũng không cay; nó là mùi chanh.
Tên khoa học là Litsea cubeba. Cây thuộc họ Long não (Lauraceae), cùng họ với quế cassia và nguyệt quế. Chi tiết này nối màng tang với một cây hương khác của vùng núi phía bắc: quế Văn Yên, được kể trong bài về quế. Hai cây cùng họ, nhưng một cây giữ cinnamaldehyde trong vỏ, một cây giữ citral trong quả.
Trang màng tang trong thư viện Lê Mai mô tả quả nhỏ, hình hạt tiêu, mùi cam chanh đặc trưng. Tinh dầu được chưng cất từ quả tươi. Phần lá và cành cũng thơm, nhưng quả là phần cho tinh dầu thương mại.
Trên thị trường quốc tế, dầu này được bán dưới tên may chang, hoặc Litsea cubeba oil. Màng tang là một nguyên liệu Việt quen mùi, lạ tên.
Một quả nhỏ cỡ hạt tiêu. Mùi của nó đi xa hơn nhiều so với kích thước ấy.
Cây rừng của miền núi phía Bắc
Litsea cubeba là một cây gỗ nhỏ của Đông Á và Đông Nam Á. Thư viện ghi vùng phân bố gồm Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Indonesia và Malaysia. Trung Quốc là nước sản xuất tinh dầu lớn nhất thế giới.
Ở Việt Nam, màng tang mọc hoang và được trồng ở vùng núi phía bắc: Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Đó là cùng một dải núi đã cho hồi Lạng Sơn và quế Văn Yên. Trang tinh dầu Việt Nam xếp màng tang cùng nhóm với sả chanh và sả Java: ba cây cùng mang mùi chanh, nhưng khác nhau về phân tử.
Trong nông nghiệp vùng cao Việt Nam, thư viện ghi màng tang đã trở thành một cây kinh tế, bán nguyên liệu cho ngành chiết xuất citral. Nghĩa là một phần lớn quả màng tang không đi vào chai tinh dầu để ngửi, mà đi vào nhà máy để tách lấy một phân tử.
Đó là một đặc điểm ít tinh dầu có. Thư viện ghi dầu màng tang được sản xuất khối lượng lớn, và phần lớn dùng cho tổng hợp công nghiệp: citral, ionone, methyl ionone, và các vitamin A, E, K. Ionone là những phân tử mang mùi hoa violet. Một quả tiêu rừng ở Lào Cai có thể kết thúc trong một chai nước hoa hương violet, hoặc trong một viên vitamin.
Mùa hái theo mùa quả, và thư viện chưa ghi tháng cụ thể cho màng tang Việt Nam. Điều chắc chắn là quả được hái khi còn tươi, vì dầu được cất từ quả tươi.
Chưng cất quả tươi
Quả màng tang đi vào nồi khi còn tươi. Đây là khác biệt với hồi, nơi quả được phơi khô trước khi chưng cất. Hơi nước đi qua khối quả, kéo theo các phân tử nhẹ, rồi ngưng tụ thành một lớp dầu tách khỏi nước.
Thành phần của dầu tập trung. Geranial từ 40 đến 47 phần trăm. Neral từ 30 đến 35 phần trăm. Cộng lại, citral chiếm khoảng 74 phần trăm, theo dữ liệu an toàn của thư viện. Phần còn lại gồm limonene từ 4,5 đến 10 phần trăm, beta myrcene từ 1,5 đến 4 phần trăm, methyl heptenone từ 1 đến 3 phần trăm, và linalool đến 2 phần trăm.
Với một dầu có ba phần tư là một cặp phân tử, việc giữ dầu đúng cách quan trọng. Thư viện ghi dầu màng tang nên được giữ trong chai tối màu, kín, để lạnh, và có thể thêm chất chống oxy hoá. Citral là một aldehyde; nó phản ứng với không khí theo thời gian, và dầu cũ đổi mùi.
Quả tươi cũng có nghĩa là thời gian giữa lúc hái và lúc cất cần ngắn. Với sả chanh, thư viện ghi rằng chưng cất ngay sau khi cắt giữ được mùi đầy đủ hơn. Với màng tang, nguyên tắc tương tự áp dụng cho quả: dầu phản ánh trạng thái của quả khi vào nồi.
Một nồi quả tiêu rừng, một lớp dầu mỏng, ba phần tư là citral.
Citral, neral và geranial
Citral là một cái tên cho hai phân tử có cùng công thức, chỉ khác nhau ở hướng của một liên kết đôi. Citral có công thức C₁₀H₁₆O, khối lượng phân tử 152,23 g/mol. Dạng (E) gọi là geranial; dạng (Z) gọi là neral. Trong tự nhiên, hai dạng luôn đi cùng nhau.
Thư viện mô tả citral nói chung là mùi chanh sắc, sáng, tươi. Nhưng hai nửa của nó không giống hệt. Neral được mô tả là mùi sả chanh, mềm và ngọt hơn geranial, với hậu vị chanh. Geranial mang phần sắc hơn. Tỉ lệ giữa hai dạng, cùng với những gì đi kèm, quyết định một dầu citral nghiêng về sắc hay về ngọt.
Thư viện ghi trong hầu hết các tinh dầu, neral và geranial có tỉ lệ xấp xỉ 2 trên 3. Trang citral ghi tỉ lệ thường gặp từ 40 trên 60 đến 35 trên 65. Trong dầu màng tang, tỉ lệ này nằm trong khoảng đó: neral 30 đến 35, geranial 40 đến 47.
Citral có mặt ở nhiều cây không họ hàng: sả chanh, sim chanh Úc, tía tô đất, cỏ roi ngựa chanh, lá chanh vàng. Trong dầu lá chanh vàng, geranial từ 25 đến 35 phần trăm và neral từ 18 đến 26 phần trăm, cùng geranyl acetate và geraniol; thư viện mô tả mùi lá chanh là tươi, có nét lá, ít cam chanh hơn tinh dầu vỏ chanh. Cùng một cặp phân tử, mỗi cây đặt nó vào một khung khác.
Citral dễ tổng hợp và cũng dễ tách từ dầu màng tang. Vì vậy, một chai mùi chanh trên kệ có thể chứa citral từ màng tang mà không mang tên màng tang.
Màng tang cạnh sả chanh
Hai tinh dầu có lượng citral gần bằng nhau, nhưng mùi không giống nhau. Mẫu dầu sả chanh Việt Nam cho 61 đến 76 phần trăm citral; dầu màng tang khoảng 74 phần trăm. Nếu chỉ nhìn con số citral, hai chai gần như cùng một thứ.
Khác biệt nằm ở phần còn lại. Dầu sả chanh Tây Ấn mang beta myrcene từ 5,6 đến 19,2 phần trăm, một phân tử cho nét xanh, hơi nhựa. Dầu màng tang mang limonene từ 4,5 đến 10 phần trăm, phân tử chính của vỏ cam chanh, và chỉ có 1,5 đến 4 phần trăm myrcene.
Trên que thử, điều đó đọc ra rõ ràng. Sả chanh mở ra sắc, rồi chuyển sang một nền cỏ xanh. Màng tang mở ra ngọt hơn, tròn hơn, gần mùi kẹo chanh hay vỏ chanh ngâm đường, và giữ nét cam chanh ấy lâu hơn trước khi lùi xuống. Thư viện mô tả màng tang là mùi cam chanh tươi, ngọt, gần sả chanh và tía tô đất nhưng trong trẻo hơn.
Một bên xanh như lá, một bên ngọt như kẹo. Cùng citral, khác người đi kèm. Sự khác nhau giữa sả chanh và sả Java, được kể trong bài về hai loài sả, là khác nhau về phân tử chính. Sự khác nhau giữa sả chanh và màng tang tinh tế hơn: cùng phân tử chính, khác phân tử phụ.
Trong nước hoa, sự khác nhau đó quyết định vị trí. Màng tang dễ đặt vào phần đầu của một cấu trúc cam chanh mà không mang theo nét cỏ. Sả chanh mang theo cỏ, và chỉ hợp khi nét cỏ ấy là điều được tìm kiếm.
Citral và giới hạn trên da
Giới hạn của dầu màng tang được tính từ citral. Citral được xếp là chất gây mẫn cảm mức vừa. IFRA giới hạn citral 0,6 phần trăm trong sản phẩm lưu lại trên da, có thể lên 1,4 phần trăm khi đi cùng d limonene với lượng gấp năm đến mười lần. Theo quy định EU, citral phải được ghi trên nhãn khi vượt 10 ppm trong sản phẩm lưu lại trên da hoặc 100 ppm trong sản phẩm rửa trôi.
Từ đó, nồng độ tối đa trên da cho dầu màng tang là 0,8 phần trăm. Con số này cao hơn một chút so với sả chanh, 0,7 phần trăm, và dầu lá chanh vàng, 0,6 phần trăm. Trong 10 ml dầu nền, 0,8 phần trăm là 0,08 ml, khoảng một đến hai giọt nếu tính 20 giọt cho mỗi ml.
Thư viện ghi thêm: trong 200 bệnh nhân viêm da tiếp xúc, 3 người phản ứng dương tính với dầu màng tang 2 phần trăm. Dầu không gây nhạy sáng. Nên tránh dùng trên da trẻ dưới 2 tuổi, và thận trọng với da nhạy cảm. Với đường uống, thư viện ghi liều tối đa hằng ngày trong thai kỳ là 56 mg, và lưu ý tương tác với một số thuốc qua enzyme CYP2B6.
Việc bảo quản cũng là một phần của giới hạn. Thư viện ghi dầu màng tang nên được giữ trong chai tối màu, đậy kín, để lạnh, và có thể thêm chất chống oxy hoá. Một chai citral để hở lâu ngoài không khí không còn là chai dầu đã được đánh giá ở trên.
Một hai giọt trong mười mililít. Mùi chanh ngọt của màng tang không cần nhiều hơn thế để hiện diện.
Một quả trông như hạt tiêu, mang mùi của chanh.
Cùng citral với sả chanh, khác ở những gì đi kèm.
Tên gọi xa lạ; mùi thì đã quen từ lâu.
Clusters of small round fruits the size of peppercorns, growing on a small tree in the northern mountains. Crush one and a sweet lemon scent springs out. Its Vietnamese name is màng tang, its international name may chang, and about three quarters of its oil is citral.
May chang fruit on the branch
May chang fruits are small and round, growing in clusters along the branch, and they look like peppercorns. That is why the tree carries names such as mountain pepper in English, and forest pepper in the way many Vietnamese speakers refer to it. But may chang is not a member of the pepper family. Its scent is not hot either; it is lemon.
The scientific name is Litsea cubeba. The tree belongs to the laurel family (Lauraceae), the same family as cassia and bay laurel. This detail links may chang to another aromatic tree of the northern mountains: Văn Yên cassia, told in the piece on cassia. Same family, but one tree holds cinnamaldehyde in its bark, the other holds citral in its fruit.
The may chang page in the Lê Mai library describes the fruit as small, peppercorn shaped, with a distinctive citrus scent. The oil is distilled from fresh fruit. The leaves and twigs are fragrant too, but the fruit is the part that gives commercial oil.
On the international market the oil is sold as may chang, or Litsea cubeba oil. May chang is a Vietnamese material with a familiar scent and an unfamiliar name.
A fruit the size of a peppercorn. Its scent travels much further than that size suggests.
A forest tree of the northern mountains
Litsea cubeba is a small tree of East and Southeast Asia. The library records its range as China, Vietnam, Taiwan, Indonesia and Malaysia. China is the world's largest producer of the oil.
In Vietnam, may chang grows wild and cultivated in the northern mountains: Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên. It is the same mountain belt that gives Lạng Sơn star anise and Văn Yên cassia. The essential oils of Vietnam page groups may chang with lemongrass and citronella: three plants that share a lemon scent but differ in their molecules.
In Vietnam's highland agriculture, the library notes that may chang has become a commercial crop supplying the citral extraction industry. That means a large share of may chang fruit does not go into a bottle to be smelled, but into a factory to separate out one molecule.
Few essential oils share that trait. The library records may chang oil as produced in very large volumes, much of it used for industrial synthesis: citral, ionone, methyl ionone, and vitamins A, E and K. Ionones are the molecules behind the scent of violet. A forest peppercorn from Lào Cai may end in a violet perfume, or in a vitamin tablet.
Picking follows the fruiting season, and the library does not yet record specific months for Vietnamese may chang. What is certain is that the fruit is picked fresh, because the oil is distilled from fresh fruit.
Distilling the fresh fruit
May chang fruit goes into the still while fresh. This differs from star anise, where the fruit is dried before distillation. Steam passes through the mass of fruit, carries the light molecules with it and condenses into a layer of oil that separates from the water.
The composition is concentrated. Geranial from 40 to 47 percent. Neral from 30 to 35 percent. Together, citral makes up about 74 percent, according to the library's safety data. The remainder includes limonene from 4.5 to 10 percent, beta myrcene from 1.5 to 4 percent, methyl heptenone from 1 to 3 percent, and linalool up to 2 percent.
With an oil that is three quarters one pair of molecules, proper storage matters. The library notes that may chang oil should be kept in a dark bottle, sealed, refrigerated, with an antioxidant where possible. Citral is an aldehyde; it reacts with air over time, and old oil changes its scent.
Fresh fruit also means the time between picking and distilling should be short. For lemongrass, the library notes that distilling right after cutting keeps a fuller scent. For may chang, the same principle applies to the fruit: the oil reflects the state of the fruit as it enters the still.
A still full of forest peppercorns, a thin layer of oil, three quarters citral.
Citral, neral and geranial
Citral is one name for two molecules with the same formula, differing only in the direction of one double bond. Citral has the formula C₁₀H₁₆O, molecular weight 152.23 g/mol. The (E) form is called geranial; the (Z) form is called neral. In nature the two always occur together.
The library describes citral in general as sharp lemon, bright and fresh. But its two halves are not identical. Neral is described as lemongrass like, softer and sweeter than geranial, with a lemony finish. Geranial carries the sharper part. The ratio between the two forms, together with whatever travels with them, decides whether a citral oil leans sharp or sweet.
The library notes that in most essential oils neral and geranial occur at roughly 2 to 3. The citral page gives a usual ratio of 40 to 60 up to 35 to 65. In may chang oil the ratio falls within that range: neral 30 to 35, geranial 40 to 47.
Citral occurs in many unrelated plants: lemongrass, lemon myrtle, melissa, lemon verbena, lemon leaf. In lemon leaf oil, geranial runs from 25 to 35 percent and neral from 18 to 26 percent, with geranyl acetate and geraniol; the library describes lemon leaf as fresh and leafy, less citrus than lemon peel oil. The same pair of molecules, set by each plant in a different frame.
Citral is easy to synthesise and also easy to isolate from may chang oil. So a lemon scented bottle on a shelf may hold citral from may chang without carrying the name may chang.
May chang beside lemongrass
The two oils carry almost the same amount of citral, but they do not smell alike. Vietnamese lemongrass oils gave 61 to 76 percent citral; may chang oil about 74 percent. Looking only at the citral figure, the two bottles are nearly the same thing.
The difference lies in what remains. West Indian lemongrass oil carries beta myrcene from 5.6 to 19.2 percent, a molecule with a green, slightly resinous edge. May chang oil carries limonene from 4.5 to 10 percent, the main molecule of citrus peel, and only 1.5 to 4 percent myrcene.
On a blotter this reads clearly. Lemongrass opens sharp, then moves to a green grassy base. May chang opens sweeter and rounder, close to lemon sweets or candied lemon peel, and holds that citrus line longer before it recedes. The library describes may chang as a fresh, sweet citrus note, close to lemongrass and melissa but more crystalline.
One green as a leaf, one sweet as a sweet. Same citral, different companions. The difference between lemongrass and citronella, told in the piece on the two grasses, is a difference in the main molecule. The difference between lemongrass and may chang is subtler: same main molecule, different minor ones.
In perfumery that difference decides placement. May chang sits easily at the top of a citrus structure without bringing grass along. Lemongrass brings the grass, and fits only when that grassy line is what is wanted.
Citral and limits on skin
The limit for may chang oil is calculated from citral. Citral is classified as a moderate sensitiser. IFRA limits citral to 0.6 percent in leave on products, rising to 1.4 percent when paired with d limonene at five to ten times the amount. Under EU rules citral must be named on the label above 10 ppm in leave on products or 100 ppm in rinse off products.
From this, the maximum dermal level for may chang oil is 0.8 percent. The figure is slightly higher than lemongrass at 0.7 percent and lemon leaf at 0.6 percent. In 10 ml of carrier oil, 0.8 percent is 0.08 ml, roughly one to two drops at 20 drops per ml.
The library adds: of 200 contact dermatitis patients, 3 reacted positively to may chang oil at 2 percent. The oil is not phototoxic. It should be avoided on the skin of children under 2 and used with care on sensitive skin. For oral use the library records a maximum daily dose in pregnancy of 56 mg, and notes interactions with some drugs through the CYP2B6 enzyme.
Storage is part of the limit too. The library notes that may chang oil should be kept in a dark bottle, tightly closed, refrigerated, with an antioxidant where possible. A bottle of citral left open to the air for long is no longer the oil that was assessed above.
One or two drops in ten millilitres. The sweet lemon of may chang needs no more than that to be present.
A fruit that looks like pepper and carries the scent of lemon.
The same citral as lemongrass, different in what travels with it.
The name is unfamiliar; the scent has long been known.