Một chai dầu massage phần lớn là dầu nền; theo bảng pha loãng của thư viện, tinh dầu cho cơ thể thường chỉ ở mức 2 đến 5 phần trăm. Vì vậy độ trơn dưới bàn tay, tốc độ thấm và lớp còn lại trên da gần như hoàn toàn do dầu nền quyết định. Hạnh nhân ngọt, jojoba và dầu dừa phân đoạn trông giống nhau trong chai, nhưng là ba kiểu phân tử khác nhau. Bài này đi qua cấu trúc của từng dầu để xem vì sao chúng chạm da khác nhau.
Triglyceride và wax ester
Gần như mọi dầu thực vật là triglyceride. Trang dầu thực vật của thư viện tả cấu trúc này là một phân tử glycerin liên kết với ba acid béo. Tính chất của dầu đến chủ yếu từ tỉ lệ các acid béo ấy: acid béo no như palmitic và stearic cho kết cấu rắn hoặc đặc ở nhiệt độ phòng, acid béo không no như oleic, linoleic, linolenic cho dầu dạng lỏng.
Wax ester là một kiểu khác. Không có glycerin ở giữa; thay vào đó, một acid béo mạch dài nối trực tiếp với một rượu béo mạch dài qua một liên kết ester duy nhất. Kết quả là một phân tử thẳng, dài, chỉ có hai nhánh thay vì ba. Sáp ong và lớp sáp phủ trên nhiều lá cây cũng chứa nhiều wax ester, bên cạnh những thành phần khác như hydrocarbon và acid béo tự do.
Ba dầu nền trong bài này vì thế chia thành hai nhóm. Hạnh nhân ngọt và dầu dừa phân đoạn đều là triglyceride, nhưng với acid béo dài ngắn rất khác nhau. Jojoba đứng riêng, là wax ester. Gần như mọi khác biệt về cảm giác và độ bền giữa ba dầu đều bắt đầu từ chỗ này.
Jojoba: một sáp ở thể lỏng
Jojoba, Simmondsia chinensis, là cây bụi vùng sa mạc Bắc Mỹ. Thư viện ghi dầu jojoba thực chất là wax ester lỏng, không phải triglyceride, và cấu trúc gần với lớp bã nhờn tự nhiên của da người. Một bài tổng quan năm 2021 ghi gần 98 phần trăm jojoba là sáp, chủ yếu là wax ester của acid béo và rượu béo mạch dài, cùng một ít acid béo tự do, rượu béo và hydrocarbon.
Acid béo chính trong jojoba là acid 11-eicosenoic, mạch 20 carbon với một nối đôi, chiếm khoảng 70 đến 77 phần trăm tuỳ phân tích; sau đó là acid erucic, 22 carbon, khoảng 12 đến 14 phần trăm, và oleic khoảng 9 đến 10 phần trăm. Con số đổi theo đất và khí hậu, nhưng bức tranh chung giữ nguyên: mạch dài, mỗi mạch chỉ một nối đôi.
Gọi là sáp vì cấu trúc, không vì độ cứng. Jojoba chỉ đông đặc khi xuống khoảng 7 đến 10°C, nên ở khí hậu Việt Nam nó luôn lỏng. Ít triglyceride, ít nối đôi, cùng lượng tocopherol tự nhiên mà thư viện nhắc tới, làm jojoba rất khó ôi: thư viện ghi shelf life từ 5 năm trở lên, dài nhất trong bảng.
Bài dầu cho cổ vai gáy chọn jojoba làm dầu nền chính vì nó khô nhanh và không để lại cảm giác nhờn. Bản đồ dầu nền của thư viện cũng đặt jojoba ở mức thấm nhanh nhất, dù cấu trúc của nó là một sáp.
Hạnh nhân ngọt: oleic và linoleic
Hạnh nhân ngọt, Prunus dulcis, là một triglyceride điển hình với acid béo 18 carbon. Bảng của thư viện ghi oleic 60 đến 78 phần trăm, linoleic 17 đến 25, linolenic dưới 0,5 và phần no 6 đến 10. Nói cách khác, gần như toàn bộ dầu là acid béo không no, phần lớn chỉ có một nối đôi.
Mỗi nối đôi dạng cis bẻ mạch carbon thành một góc. Các mạch gãy góc không xếp khít vào nhau được, nên dầu lỏng ở nhiệt độ phòng. Thư viện ghi oleic cho dầu cảm giác cân bằng, thấm vừa và ổn định với oxy hoá; linoleic, với hai nối đôi, cho cảm giác khô hơn, thấm nhanh hơn, nhưng oxy hoá nhanh hơn.
Hạnh nhân ngọt mang cả hai, với oleic dẫn đầu. Thư viện xếp nó vào nhóm dầu cân bằng, thấm vừa phải và để lại một lớp mềm nhẹ, nhóm được dùng làm body oil và dầu massage. Thư viện cũng ghi dầu hợp hầu hết loại da, trừ người dị ứng hạt, và có shelf life khoảng 1 năm.
Cả ba công thức trong bài ba dầu dưỡng cho mùa khô đều có hạnh nhân ngọt, mỗi công thức ở một tỉ lệ khác. Đó là vai trò quen thuộc của dầu này: một dầu lỏng, mềm, dễ phối, đứng giữa hai thái cực.
Dầu dừa phân đoạn: phần lỏng của một chất béo rắn
Dầu dừa, Cocos nucifera, theo thư viện có phần acid béo no từ 85 đến 92 phần trăm. Ở dạng virgin, dầu rắn dưới 24°C, giàu lauric và có mùi dừa. Dạng phân đoạn thì khác hẳn: thư viện ghi đây là dầu lỏng vĩnh viễn, đã tách MCT, không mùi.
MCT là triglyceride mạch trung bình. Trong sản xuất, phần acid béo mạch 8 và 10 carbon được tách khỏi phần mạch dài hơn, gồm phần lớn lauric 12 carbon, rồi gắn lại với glycerin. Kết quả chủ yếu là triglyceride của acid caprylic 8 carbon và acid capric 10 carbon; phiếu thông số của nhà cung cấp thường ghi lauric dưới 3 phần trăm. Trên bảng thành phần mỹ phẩm, phần này thường mang tên Caprylic/Capric Triglyceride.
Đây là chỗ thú vị về hoá học: dầu gần như toàn acid béo no, vậy mà vẫn lỏng. Mạch no thường xếp khít và làm chất béo đông lại, nhưng mạch 8 và 10 carbon quá ngắn để tạo lực hút đủ mạnh giữa các phân tử. Không có nối đôi, dầu cũng gần như không có chỗ cho oxy tấn công; bảng shelf life của thư viện chỉ có dòng dầu dừa chung, 2 đến 4 năm, còn phiếu thông số của nhà cung cấp dầu dừa phân đoạn thường ghi hạn dùng 24 tháng.
Độ thấm và cảm giác trên da
Thư viện có một bản đồ dầu nền với trục dọc là tốc độ thấm, chia từ 1 là chậm nhất đến 5 là nhanh nhất. Jojoba nằm ở mức 5, dầu dừa phân đoạn ở mức 4, hạnh nhân ngọt ở mức 3. Để so sánh, dầu dừa virgin ở mức 2, ô-liu và bơ hạt mỡ ở mức 1. Đây là thang so sánh tương đối giữa các dầu, không phải một phép đo tuyệt đối.
Thư viện giải thích cảm giác chạm da liên quan trực tiếp đến tỉ lệ linoleic và oleic, cùng độ phân cực của phân tử. Dầu khô thấm nhanh, không để lại màng nhờn; dầu cân bằng thấm vừa, để lại lớp mềm nhẹ; dầu nhờn thấm chậm, lưu lại lớp màng dày. Hạnh nhân ngọt và jojoba được thư viện xếp vào nhóm cân bằng.
Dầu dừa phân đoạn thì nhẹ vì một lý do khác: phân tử nhỏ hơn hẳn hai dầu kia, mạch acid béo chỉ dài bằng một nửa, nên dầu loãng: phiếu kỹ thuật của một loại Caprylic/Capric Triglyceride ghi độ nhớt khoảng 30 mPa·s ở 20°C. Ba dầu vì thế không xếp thành một hàng, mà phủ ba điểm khác nhau: một sáp mạch dài thấm nhanh, một triglyceride mạch ngắn và loãng, và một triglyceride mạch dài thấm vừa.
Dầu massage Mát Lành của Lê Mai dùng đúng ba dầu này: nền dầu hạnh nhân ngọt, jojoba và dầu dừa phân đoạn, cùng tinh dầu trà trắng Camellia sinensis chiết từ lá, xuất xứ Ấn Độ. Trà trắng là hương chính, một mùi trà nhẹ, thanh. Dầu dừa phân đoạn gần như không mùi, jojoba chỉ có mùi rất nhẹ, nên phần trà nhẹ ấy không bị dầu nền che đi.
Nối đôi, oxy và tinh dầu trong nền
Thư viện ghi dầu thực vật bị ôi do oxy hoá ở nối đôi của acid béo không no: linolenic ba nối đôi ôi nhanh nhất, linoleic hai nối đôi ở giữa, oleic một nối đôi chậm. Dầu dừa phân đoạn gần như không có nối đôi. Jojoba có một nối đôi trên mỗi mạch dài. Hạnh nhân ngọt mang 17 đến 25 phần trăm linoleic, nên là mắt xích dễ bị oxy chạm tới nhất trong ba dầu.
Trong một hỗn hợp, độ bền của cả chai thường do thành phần kém bền nhất quyết định. Thư viện ghi shelf life của hạnh nhân ngọt khoảng 1 năm, jojoba từ 5 năm, dầu dừa nói chung 2 đến 4 năm. Thư viện cũng nhắc vitamin E, tức tocopherol, là chất chống oxy hoá tự nhiên có sẵn trong nhiều dầu và thường được thêm ở mức 0,5 phần trăm để kéo dài thời gian dùng.
Dầu nền cũng là dung môi của tinh dầu. Như bài hai phần trăm đã viết, chất pha loãng tinh dầu phải là chất béo; nước chỉ phân tán tinh dầu thành giọt tạm thời. Các phân tử thơm hoà vào khoảng trống giữa những mạch acid béo, rồi bay hơi dần từ lớp dầu mỏng trên da.
Dầu massage Thư Giãn đặt tinh dầu hoa hồng Rosa damascena trên nền dầu thực vật ép lạnh, với hương hoa hồng nằm ở tầng giữa, nhẹ và kín. Dầu massage Thư Thái dùng nền dầu thực vật ép lạnh với tinh dầu oải hương Lavandula angustifolia từ Bulgaria, một mùi hoa cổ điển, dịu mát. Tên hai chai là tên của mùi; thứ chạm vào da là dầu nền.
Hai dầu là triglyceride, một dầu là sáp.
Mạch ngắn cho dầu dừa sự nhẹ, nối đôi cho hạnh nhân sự mềm, ester đơn cho jojoba độ bền.
Tinh dầu cho chai một mùi; dầu nền cho bàn tay một cảm giác.