Một chai hoa hồng, một chai hoắc hương, chín lọ nhỏ đánh số. Bài bốn của khoá pha hương dựng một dãy thử từ 9:1 đến 1:9 để tìm điểm hai mùi thôi tách rời và trở thành một accord.
Hai chai, chín tỉ lệ
Hai chai trong bài này đến từ hai đầu của bảng bay hơi. Hoa hồng Damask được cất từ cánh hoa hái tay lúc trời vừa sáng ở Bulgaria và Thổ Nhĩ Kỳ; thư viện ghi cần khoảng 3.000 đến 5.000 kg hoa tươi cho một kg tinh dầu. Hoắc hương được cất từ lá đã phơi khô và ủ nhẹ, mỗi mẻ chưng từ 8 đến 24 giờ, hiệu suất 2 đến 4 phần trăm khối lượng lá khô.
Trên que thử, hai chai đi hai nhịp khác nhau. Bảng bay hơi của thư viện ghi hoa hồng còn nhận ra khoảng 168 giờ và xếp vào tầng giữa. Hoắc hương ghi từ 400 giờ trở lên, tầng đáy. Một chất đứng ở thân, một chất đứng ở nền. Cặp này đủ khác nhau để thấy rõ lúc chúng gặp nhau.
Bài ba kết thúc bằng một khoảng cách: tỉ lệ trên giấy và tỉ lệ mũi nghe được không trùng nhau. Bài bốn đo khoảng cách đó một cách có hệ thống. Thay vì đoán một tỉ lệ, dựng cả chín tỉ lệ cạnh nhau và để que thử trả lời.
Chín tỉ lệ đi theo bước đều: 9:1, 8:2, 7:3, 6:4, 5:5, 4:6, 3:7, 2:8, 1:9. Số đầu là hoa hồng, số sau là hoắc hương. Bước đều không phải vì mùi thay đổi đều, mà vì bước đều cho phép thấy chỗ mùi thay đổi đột ngột.
Dãy thử từ 9:1 đến 1:9
Dãy thử bắt đầu bằng pha loãng. Mỗi chai được pha 10 phần trăm trong cồn trước khi chia tỉ lệ, theo cách ngành hương gọi là smelling dilution. Ở dạng loãng, nhiều nguyên liệu mở ra rõ hơn so với khi nguyên chất. Hoa hồng còn là một trong những tinh dầu đắt nhất trên bàn; pha loãng trước giúp cả dãy chín lọ chỉ tốn vài giọt nguyên chất.
Mỗi lọ nhận tổng mười giọt dung dịch loãng. Lọ số một: chín giọt hoa hồng, một giọt hoắc hương. Lọ số chín: một giọt hoa hồng, chín giọt hoắc hương. Cả dãy cần 45 giọt dung dịch hoa hồng và 45 giọt dung dịch hoắc hương. Lắc nhẹ, đậy nắp, ghi số lên từng lọ.
Chín que thử được nhúng cùng lúc, mỗi que ghi số lọ và giờ nhúng. Cùng một thời điểm là điều kiện bắt buộc: nếu nhúng lệch nhau vài giờ, khác biệt trên que thử sẽ là khác biệt thời gian chứ không phải khác biệt tỉ lệ. Các que được cắm cách nhau, không chạm nhau.
Nhịp ngửi giữ như bài hai: năm phút, một giờ, một ngày, ba ngày. Mỗi mốc ngửi theo thứ tự từ lọ một đến lọ chín, rồi ngược lại từ chín về một. Hai chiều ngửi giúp giảm ảnh hưởng của mũi đã mỏi ở cuối dãy.
Điểm hai mùi thôi tách rời
Ở hai đầu dãy, câu trả lời dễ đoán. Lọ số một là hoa hồng với một bóng đất phía sau. Lọ số chín là hoắc hương với một vệt hoa. Mũi vẫn tách được hai thành phần, chỉ khác nhau ở chỗ chất nào đứng trước.
Đi dần vào giữa dãy, có một lọ mà mũi thôi tách được. Không còn hoa hồng cộng hoắc hương, mà là một mùi thứ ba chưa có tên. Bảng thuật ngữ của thư viện định nghĩa accord đúng ở điểm này: vài nguyên liệu đi cùng nhau đến mức mũi nghe thành một mùi mới, không còn tách ra từng phần.
Accord không phải trung bình cộng. Lọ 5:5 không nhất thiết là lọ hoà nhất. Như bài ba đã chỉ ra, độ mạnh mùi của hai chai không bằng nhau, nên điểm cân bằng thường lệch về phía chai yếu hơn. Chỉ dãy thử mới cho biết điểm đó nằm ở đâu với đúng hai lô đang có trên bàn.
Điểm đó cũng có thể dịch theo thời gian. Ở phút thứ năm, lọ hoà nhất có thể là 6:4. Sau một ngày, khi phần nhẹ của hoa hồng đã bay bớt, lọ hoà nhất có thể dời về 7:3. Một accord tốt giữ được sự liền lạc qua nhiều mốc, không chỉ ở mốc đầu tiên.
Có những cặp không có điểm nào như vậy. Qua cả chín lọ và bốn mốc thời gian, mũi vẫn tách được hai thành phần. Đó không phải thất bại của dãy thử mà là một kết quả: cặp đó cần một chất thứ ba làm cầu nối, hoặc không nên đứng cạnh nhau trong cùng một tầng. Ghi kết quả này vào sổ cũng cần thiết như ghi một accord thành công.
Geraniol gặp patchoulol
Dưới mùi của hai chai là hai nhóm phân tử. Trong hoa hồng Damask Bulgaria, thư viện ghi citronellol chiếm 16 đến 36 phần trăm và geraniol 16 đến 26 phần trăm. Geraniol được mô tả là mùi hoa hồng ngọt, có sắc chanh và sáp, tươi và sáng. Nó là một rượu terpen nhỏ, khối lượng phân tử khoảng 154.
Phía hoắc hương, phân tử chính là patchoulol, chiếm 17.5 đến 32.7 phần trăm tinh dầu, bên cạnh α-bulnesene và α-guaiene. Patchoulol là một rượu sesquiterpen, khối lượng phân tử khoảng 222, mùi gỗ ấm, đất, hơi ngọt, có vệt long não mờ, khô hơn chính tinh dầu hoắc hương.
Chênh lệch khối lượng phân tử giải thích một phần chênh lệch tốc độ bay hơi. Phân tử nhỏ lên mũi trước và rời que thử sớm hơn; phân tử lớn ở lại. Trong accord hoa hồng và hoắc hương, geraniol và citronellol dựng phần mở, patchoulol giữ phần cuối. Vùng giữa là nơi cả hai cùng có mặt, và đó là vùng mà mũi nghe thành một.
Thành phần cũng giải thích vì sao cùng một dãy thử cho kết quả khác nhau theo lô. Hoa hồng Thổ Nhĩ Kỳ có geraniol dao động rộng hơn, từ 2 đến 18 phần trăm theo dữ liệu của thư viện. Hoắc hương Indonesia thường có patchoulol cao hơn hoắc hương Trung Quốc. Đổi một lô là đổi điểm accord.
Ghi chép một dãy thử
Một dãy thử chỉ có giá trị khi được ghi lại theo cùng một khuôn. Sổ ghi mùi từ bài một có thêm một trang dạng bảng: chín hàng cho chín lọ, bốn cột cho bốn mốc thời gian. Mỗi ô ghi ba thông tin ngắn: chất nào đứng trước, còn tách được hay không, và một hai từ mô tả.
Từ mô tả nên giữ đúng bộ chữ đã tập ở bài một. Nếu ở bài một hoắc hương được ghi là đất ẩm, thì ở bài bốn cũng dùng đất ẩm, không đổi sang gỗ tối. Bộ từ ổn định giúp so các dãy thử với nhau sau nhiều tuần.
Ô nào mũi không còn tách được hai thành phần được đánh dấu riêng. Sau bốn mốc, các dấu đó tạo thành một vùng trên bảng. Vùng hẹp nghĩa là accord nhạy với tỉ lệ; vùng rộng nghĩa là cặp này dễ hoà. Cả hai đều là thông tin dùng được khi đưa cặp này vào một công thức lớn hơn.
Chín lọ nên được giữ lại, dán nhãn, đặt nơi tối và mát. Sau một hai tuần, ngửi lại cùng dãy trên que thử mới. Hỗn hợp để yên thường khác hỗn hợp vừa pha; Blending 101 của thư viện nhắc mùi sau 24 đến 48 giờ đã khác lúc đầu. Bài bảy sẽ quay lại thời gian như một nguyên liệu.
Từ accord hai chất đến ba chất
Một accord hai chất là đơn vị nhỏ nhất của một công thức. Khi đã có lọ hoà nhất, lọ đó được đối xử như một nguyên liệu mới: có tên, có tỉ lệ, có mô tả, có thể nhúng que thử như bất kỳ chai nào khác.
Bước tiếp theo không phải thêm một chai lớn thứ ba, mà thêm một lượng rất nhỏ. Bài năm lấy chính accord hoa hồng và hoắc hương này, thêm lần lượt một giọt tiêu hồng, hạt ngò, đơn sâm, và ghi lại hướng mùi thay đổi. Dãy thử của bài bốn trở thành đối chứng.
Dãy thử này dành cho que thử. Khi accord đi vào sản phẩm dùng trên da, hoa hồng Damask có mức tối đa trên da 0.6 phần trăm trong dữ liệu thư viện, do có methyleugenol từ 0.5 đến 3.3 phần trăm. Hoắc hương không có giới hạn IFRA riêng về nồng độ, nhưng từ Quy chế (EU) 2023/1545 đã nằm trong danh sách chất gây dị ứng hương phải ghi nhãn. Geraniol có giới hạn IFRA 5.3 phần trăm trong sản phẩm lưu trên da.
Phương pháp chín tỉ lệ dùng được cho mọi cặp: cam hương và hoàng đàn, oải hương và phong lữ, bất kỳ hai chai nào trên bàn. Mỗi cặp là một dãy, mỗi dãy là một trang sổ.
Hai chai không cần hoà làm một. Chúng chỉ cần một tỉ lệ để làm điều đó.
Tỉ lệ ấy không nằm trong sách. Nó nằm ở lọ thứ mấy trong dãy.
Chín lọ nhỏ, một điểm duy nhất.
One bottle of rose, one of patchouli, nine small numbered vials. Lesson four of the blending course builds a series from 9:1 to 1:9 to find the point where two scents stop standing apart and become one accord.
Two bottles, nine ratios
The two bottles in this lesson come from opposite ends of the evaporation chart. Damask rose is distilled from petals picked by hand at first light in Bulgaria and Turkey; the library records about 3,000 to 5,000 kg of fresh flowers for one kg of oil. Patchouli is distilled from leaves that have been dried and lightly fermented, each batch running 8 to 24 hours, with a yield of 2 to 4 percent of dry leaf weight.
On a blotter the two bottles keep different time. The library's volatility chart gives rose about 168 hours and places it in the heart. Patchouli is listed at 400 hours or more, in the base. One material stands in the body, the other in the ground. The pair is different enough to show clearly when they meet.
Lesson three ended with a gap: the ratio on paper and the ratio the nose hears do not coincide. Lesson four measures that gap systematically. Instead of guessing one ratio, all nine are set side by side and the blotters answer.
The nine ratios move in even steps: 9:1, 8:2, 7:3, 6:4, 5:5, 4:6, 3:7, 2:8, 1:9. The first figure is rose, the second patchouli. The steps are even not because scent changes evenly, but because even steps make it possible to see where scent changes suddenly.
The series from 9:1 to 1:9
The series begins with dilution. Each oil is diluted to 10 percent in alcohol before the ratios are made, the practice perfumery calls a smelling dilution. Diluted, many materials open more clearly than they do neat. Rose is also one of the most expensive oils on the table; diluting first means the whole series of nine vials uses only a few drops of neat oil.
Each vial receives ten drops of diluted solution in total. Vial one: nine drops of rose, one of patchouli. Vial nine: one drop of rose, nine of patchouli. The whole series takes 45 drops of the rose solution and 45 of the patchouli solution. Shake gently, cap, number each vial.
Nine blotters are dipped at the same moment, each marked with its vial number and the time. The same moment is essential: if the dips are hours apart, differences on the blotters become differences of time rather than of ratio. The blotters are set apart and do not touch.
The smelling rhythm follows lesson two: five minutes, one hour, one day, three days. At each mark the blotters are smelled in order from vial one to nine, then back from nine to one. Smelling in both directions reduces the effect of a tired nose at the end of the row.
The point where two scents stop separating
At both ends of the series the answer is predictable. Vial one is rose with a shadow of earth behind it. Vial nine is patchouli with a trace of flower. The nose can still separate the two parts; the only difference is which one stands in front.
Moving towards the middle, there is one vial where the nose can no longer separate them. It is no longer rose plus patchouli but a third scent without a name. The library's glossary defines an accord at exactly this point: a few materials combined so that the nose reads them as one new smell rather than separate parts.
An accord is not an average. The 5:5 vial is not necessarily the most unified one. As lesson three showed, the two bottles differ in odour strength, so the point of balance tends to lean towards the weaker oil. Only the series shows where that point lies for the two lots actually on the table.
The point can also move over time. At five minutes the most unified vial may be 6:4. After a day, once the lighter part of the rose has thinned, it may shift to 7:3. A good accord holds together across several marks, not only the first.
Some pairs have no such point. Across all nine vials and four time marks, the nose can still separate the two parts. That is not a failure of the series but a result: the pair needs a third material as a bridge, or should not stand side by side in the same tier. Recording this in the notebook matters as much as recording a successful accord.
Geraniol meets patchoulol
Beneath the scent of the two bottles are two groups of molecules. In Bulgarian damask rose the library lists citronellol at 16 to 36 percent and geraniol at 16 to 26 percent. Geraniol is described as sweet rose with lemony, waxy facets, fresh and bright. It is a small terpene alcohol with a molecular weight of about 154.
On the patchouli side the main molecule is patchoulol, 17.5 to 32.7 percent of the oil, alongside α-bulnesene and α-guaiene. Patchoulol is a sesquiterpene alcohol with a molecular weight of about 222, smelling of warm wood and earth, slightly sweet, with a faint camphor trace, drier than patchouli oil itself.
The difference in molecular weight explains part of the difference in evaporation. Small molecules reach the nose first and leave the blotter sooner; large ones stay. In a rose and patchouli accord, geraniol and citronellol build the opening, patchoulol holds the end. The middle stretch is where both are present, and that is where the nose hears one scent.
Composition also explains why the same series gives different results from lot to lot. Turkish rose shows a wider range of geraniol, from 2 to 18 percent in the library's data. Indonesian patchouli usually carries more patchoulol than Chinese patchouli. Changing a lot changes the accord point.
Recording a series
A series is only worth something when it is recorded in the same format every time. The scent notebook from lesson one gains a table page: nine rows for nine vials, four columns for four time marks. Each cell holds three short items: which material stands in front, whether they can still be separated, and one or two words of description.
The descriptive words should stay within the vocabulary built in lesson one. If patchouli was written as damp earth in lesson one, lesson four uses damp earth too, not dark wood. A stable vocabulary makes it possible to compare series weeks apart.
Any cell where the nose can no longer separate the two parts is marked. After four time marks the marks form a zone on the table. A narrow zone means the accord is sensitive to ratio; a wide zone means the pair unites easily. Both are useful when the pair goes into a larger formula.
The nine vials should be kept, labelled, in a cool dark place. After one or two weeks, smell the same series again on fresh blotters. A rested blend often differs from a fresh one; the library's Blending 101 notes that the scent after 24 to 48 hours already differs from the first moment. Lesson seven returns to time as a material.
From a two material accord to three
A two material accord is the smallest unit of a formula. Once the most unified vial is found, it is handled as a new material: it has a name, a ratio, a description, and can be dipped on a blotter like any other bottle.
The next step is not a large third bottle but a very small amount. Lesson five takes this same rose and patchouli accord, adds in turn a drop of pink pepper, coriander seed and clary sage, and records how the direction of the scent changes. The series from lesson four becomes the control.
This series is for blotters. When the accord goes into a product worn on skin, damask rose has a maximum dermal level of 0.6 percent in the library's data, because it contains 0.5 to 3.3 percent methyleugenol. Patchouli has no IFRA concentration limit of its own, but since Regulation (EU) 2023/1545 it is on the list of fragrance allergens that must be labelled. Geraniol carries an IFRA limit of 5.3 percent in leave-on products.
The nine ratio method works for any pair: bergamot and cedarwood, lavender and geranium, any two bottles on the table. Each pair is a series, each series a page in the notebook.
Two bottles do not need to become one. They only need a ratio in which to do it.
That ratio is not in any book. It sits in one of the vials in the row.
Nine small vials, one single point.